Thiết bị trong trạm quan trắc nước thải, khí thải tự động liên tục phải được kiểm định, hiệu chuẩn hoặc thử nghiệm theo pháp luật về đo lường và yêu cầu kỹ thuật quan trắc môi trường, rồi được kiểm tra định kỳ trong quá trình vận hành; dữ liệu chỉ có giá trị khi thiết bị còn trong hạn và trạm được vận hành đúng quy trình. Dữ liệu từ trạm truyền trực tiếp về cơ quan quản lý môi trường của tỉnh, nên một thiết bị đo sai không chỉ là chuyện kỹ thuật nội bộ.
Bài này viết cho cán bộ môi trường, quản đốc, người phụ trách vận hành trạm ở nhà máy, khu công nghiệp. Bài không bàn cơ sở nào thuộc diện phải lắp trạm, vì đó là câu hỏi về giấy phép môi trường; bài đi vào phần thiết bị đo: những gì phải kiểm định, hiệu chuẩn, lịch và hồ sơ, việc kiểm tra hằng ngày, và cách xử lý khi số đo bất thường mà không phạm vào điều cấm. Danh mục thông số, chu kỳ và yêu cầu kỹ thuật cụ thể cần đối chiếu văn bản hiện hành của ngành môi trường và ngành đo lường.
Một trạm quan trắc tự động gồm những gì cần đo đúng
Trạm quan trắc nước thải thường có thiết bị đo lưu lượng, nhiệt độ, pH và các thông số theo yêu cầu của giấy phép như nhu cầu oxy hoá học, chất rắn lơ lửng, amoni; kèm thiết bị lấy mẫu tự động, camera giám sát và bộ ghi, truyền dữ liệu. Trạm khí thải thường đo lưu lượng, nhiệt độ, áp suất, oxy dư và các thông số như bụi, lưu huỳnh đioxit, nitơ oxit, cacbon monoxit tuỳ loại nguồn thải.
Mỗi thiết bị có nguyên lý đo riêng và cách đảm bảo độ chính xác riêng. Đồng hồ lưu lượng và một số thiết bị có thể thuộc diện phương tiện đo phải kiểm định; các máy phân tích thường được hiệu chuẩn bằng chất chuẩn, khí chuẩn có nguồn gốc rõ ràng. Bộ ghi và truyền dữ liệu không đo gì nhưng quyết định số đo đến cơ quan quản lý có đúng như số thiết bị đo ra hay không.
Vì vậy câu hỏi đúng không phải là trạm đã kiểm định chưa, mà là từng thiết bị trong trạm đã được kiểm định, hiệu chuẩn hay thử nghiệm theo yêu cầu áp dụng cho nó chưa, còn hạn không, và dữ liệu từ thiết bị tới máy chủ có bị sai lệch ở đâu không.
Lịch đảm bảo chất lượng cho thiết bị trạm: khung tham khảo
Bảng dưới gom các lớp việc thường gặp. Tần suất cụ thể theo yêu cầu kỹ thuật hiện hành và khuyến nghị của nhà sản xuất; không áp con số chung cho mọi trạm.
| Lớp việc | Nội dung | Ai làm | Ghi nhận |
|---|---|---|---|
| Kiểm định, hiệu chuẩn định kỳ | Đánh giá độ chính xác của thiết bị so với chuẩn | Tổ chức kiểm định, hiệu chuẩn có năng lực | Giấy chứng nhận, hạn kế tiếp |
| Kiểm tra bằng chất chuẩn, khí chuẩn | Đưa mẫu chuẩn vào máy phân tích, so số đo với giá trị chuẩn | Người vận hành trạm hoặc đơn vị vận hành thuê ngoài | Nhật ký vận hành, kết quả từng lần |
| Bảo dưỡng | Vệ sinh đầu đo, thay hoá chất, màng, bộ lọc, ống dẫn mẫu | Người vận hành, nhà cung cấp | Nhật ký bảo dưỡng |
| So sánh với phòng thí nghiệm | Lấy mẫu song song, gửi phòng thí nghiệm đủ điều kiện phân tích, so với số của trạm | Doanh nghiệp phối hợp đơn vị quan trắc | Phiếu kết quả, bảng so sánh |
| Kiểm tra truyền dữ liệu | Đối chiếu số trên thiết bị, trên bộ ghi và trên hệ thống nhận | Người vận hành, bộ phận công nghệ thông tin | Nhật ký sự cố truyền |
Lớp so sánh với phòng thí nghiệm thường bị bỏ qua nhất, trong khi đó là cách duy nhất để biết máy phân tích tự động có trôi xa thực tế hay không giữa hai lần hiệu chuẩn.
Những việc người vận hành nên làm hằng ngày, hằng tuần
Nhìn xu hướng, không chỉ nhìn ngưỡng. Một thông số đứng yên một con số suốt nhiều giờ, hoặc trôi dần một chiều không theo nhịp sản xuất, thường là dấu hiệu thiết bị có vấn đề trước khi chạm ngưỡng.
Đối chiếu với vận hành. Lưu lượng nước thải tăng khi nhà máy tăng ca, giảm khi nghỉ; nồng độ khí thải thay đổi khi đổi nhiên liệu. Số đo không đi cùng hoạt động thực tế là chỗ cần kiểm tra.
Kiểm tra bằng mẫu chuẩn theo lịch. Ghi đầy đủ giá trị chuẩn, giá trị đo, người làm, thời điểm. Sai lệch vượt mức cho phép thì xử lý trước khi tiếp tục tin vào số đo.
Giữ đường lấy mẫu sạch. Ống dẫn mẫu bám cặn, đầu đo bám bẩn, bộ lọc tắc là nguyên nhân phổ biến làm số đo lệch mà không phải lỗi máy phân tích.
Ghi nhật ký mọi can thiệp. Mỗi lần mở tủ thiết bị, thay vật tư, dừng thiết bị đều ghi lại. Khi có số đo bất thường, nhật ký là thứ giúp phân biệt sự cố thiết bị với sự cố xả thải.
Khi số đo bất thường hoặc vượt ngưỡng: trình tự xử lý
Số đo vượt ngưỡng có thể do xả thải thật vượt hoặc do thiết bị lỗi. Cả hai đều phải xử lý minh bạch:
- Ghi nhận thời điểm, thông số, giá trị, xu hướng trước đó. Không xoá, không sửa dữ liệu trên thiết bị hay hệ thống.
- Kiểm tra nhanh vận hành của hệ thống xử lý: bơm, hoá chất, sục khí, lọc bụi, nhiên liệu. Nếu có sự cố xử lý, áp dụng ngay biện pháp khắc phục theo kế hoạch ứng phó.
- Kiểm tra thiết bị đo: thử bằng mẫu chuẩn, kiểm tra đường lấy mẫu, đầu đo. Lấy mẫu thủ công song song nếu có thể, gửi phòng thí nghiệm phân tích.
- Thông báo cho cơ quan quản lý môi trường nhận dữ liệu theo quy định khi có sự cố thiết bị hoặc sự cố môi trường, nêu nguyên nhân dự kiến và biện pháp đang làm.
- Sửa chữa, thay thế thiết bị; nếu can thiệp vào phần đo, hiệu chuẩn hoặc kiểm định lại trước khi đưa dữ liệu vào sử dụng chính thức.
- Lập báo cáo sự cố nội bộ: nguyên nhân, thời gian ảnh hưởng, dữ liệu bị ảnh hưởng, biện pháp phòng ngừa lặp lại.
Tắt trạm, ngắt truyền dữ liệu, chỉnh thông số cài đặt để số đo thấp xuống, hay pha loãng dòng thải tại điểm đo là những hành vi làm sai lệch dữ liệu quan trắc. Đây là vi phạm nghiêm trọng, có thể bị xử lý rất nặng, và gần như luôn bị phát hiện qua camera, nhật ký hệ thống và so sánh với mẫu đối chứng.
Hồ sơ trạm quan trắc nên có những gì
Khi cơ quan quản lý kiểm tra hoặc khi có tranh chấp về số liệu, doanh nghiệp được hỏi về lịch sử của từng thiết bị. Hồ sơ gọn gàng gồm:
- Danh sách thiết bị: thông số đo, hãng, kiểu, số sê-ri, dải đo, ngày lắp đặt.
- Giấy chứng nhận kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm của từng thiết bị theo từng lần, cùng hạn kế tiếp.
- Chứng nhận nguồn gốc của chất chuẩn, khí chuẩn đang dùng và hạn sử dụng.
- Nhật ký vận hành, bảo dưỡng, kiểm tra bằng mẫu chuẩn, sự cố và khắc phục.
- Kết quả so sánh với phòng thí nghiệm theo từng đợt.
- Văn bản trao đổi với cơ quan quản lý về sự cố, gián đoạn truyền dữ liệu.
- Hợp đồng với đơn vị vận hành, bảo trì thuê ngoài, ghi rõ phạm vi và trách nhiệm.
Nếu thuê đơn vị bên ngoài vận hành trạm, doanh nghiệp vẫn là bên chịu trách nhiệm trước cơ quan quản lý về dữ liệu. Hợp đồng nên quy định đơn vị vận hành phải bàn giao nhật ký định kỳ và báo ngay khi có sự cố, thay vì chỉ đưa báo cáo tháng.
Quyền truy cập và cài đặt: chỗ dễ sinh rủi ro nhất
Máy phân tích và bộ ghi dữ liệu đều có phần cài đặt: hệ số hiệu chỉnh, dải đo, khoảng lấy trung bình, ngưỡng báo. Ai có mật khẩu vào được phần này thì có thể làm số đo thay đổi mà thiết bị không hỏng gì. Đây là lý do doanh nghiệp nên quản lý quyền truy cập chặt như quản lý két tiền.
Nên giới hạn số người có quyền thay đổi cài đặt, mỗi người một tài khoản riêng, không dùng chung một mật khẩu mặc định của nhà sản xuất. Mọi thay đổi cài đặt phải có lý do, được ghi vào nhật ký và, nếu là thay đổi sau hiệu chuẩn, phải kèm kết quả hiệu chuẩn. Nhiều hệ thống có nhật ký sự kiện tự động; hãy bật và lưu nó, đừng tắt cho đỡ nặng bộ nhớ.
Khi đơn vị vận hành thuê ngoài hoặc kỹ sư nhà cung cấp truy cập từ xa, cần thoả thuận rõ ai được làm gì, thông báo trước mỗi lần can thiệp và gửi biên bản sau đó. Một thay đổi cài đặt không rõ nguồn gốc, phát hiện ra lúc cơ quan quản lý kiểm tra, sẽ khiến doanh nghiệp khó giải trình dù không có ý làm sai lệch.
Mua mới, thay thế và nâng cấp thiết bị
Khi đầu tư trạm mới hoặc thay thiết bị, câu hỏi kỹ thuật đầu tiên là thiết bị có đáp ứng yêu cầu kỹ thuật hiện hành về quan trắc tự động không: dải đo phù hợp với nồng độ thực tế của dòng thải, độ chính xác, khả năng kết nối truyền dữ liệu theo định dạng cơ quan quản lý yêu cầu, và có thể kiểm định, hiệu chuẩn ở trong nước hay không. Một máy rất tốt nhưng không ai trong nước hiệu chuẩn được sẽ trở thành gánh nặng sau năm đầu.
Hợp đồng mua nên ghi rõ: nhà cung cấp giao kèm giấy chứng nhận kiểm định, hiệu chuẩn ban đầu; hỗ trợ đào tạo người vận hành; cung cấp vật tư tiêu hao, chất chuẩn trong bao lâu; thời gian phản hồi khi hỏng. Với thiết bị nhập khẩu, hỏi trước về linh kiện thay thế và thời gian chờ.
Sau khi thay hoặc nâng cấp, thông báo cho cơ quan quản lý nhận dữ liệu theo quy định, chạy song song hoặc so sánh với phòng thí nghiệm một thời gian trước khi coi số đo là ổn định. Ghi rõ ngày chuyển đổi trong hồ sơ để khi xem lại dữ liệu nhiều năm, người đọc biết từ ngày nào số liệu đến từ thiết bị mới.
Câu hỏi thường gặp
Thiết bị quan trắc tự động phải kiểm định hay hiệu chuẩn?
Tuỳ từng thiết bị và yêu cầu áp dụng cho nó. Một số thiết bị như đồng hồ lưu lượng có thể thuộc diện phương tiện đo phải kiểm định; nhiều máy phân tích được hiệu chuẩn bằng chất chuẩn hoặc thử nghiệm. Đối chiếu yêu cầu kỹ thuật quan trắc môi trường và danh mục phương tiện đo hiện hành.
Mất kết nối truyền dữ liệu quan trắc thì doanh nghiệp phải làm gì?
Ghi nhận thời điểm, tìm nguyên nhân, thông báo cho cơ quan quản lý nhận dữ liệu theo quy định, và lưu dữ liệu tại trạm để truyền bù khi khôi phục nếu hệ thống cho phép. Không để gián đoạn kéo dài mà không báo.
Số đo của trạm và kết quả phòng thí nghiệm lệch nhau thì tin bên nào?
Cần tìm nguyên nhân thay vì chọn bên có lợi. Kiểm tra cách lấy mẫu, thời điểm, bảo quản mẫu, tình trạng thiết bị. Lệch lớn và lặp lại là dấu hiệu thiết bị cần hiệu chuẩn hoặc sửa chữa.
Có được tạm dừng trạm quan trắc khi bảo trì không?
Bảo trì là việc cần thiết, nhưng nên lên kế hoạch, ghi nhật ký và thông báo cho cơ quan nhận dữ liệu theo quy định. Dừng trạm không thông báo hoặc kéo dài bất thường dễ bị coi là cố tình gián đoạn dữ liệu.
Doanh nghiệp thuê ngoài vận hành trạm thì ai chịu trách nhiệm khi dữ liệu sai?
Trước cơ quan quản lý, chủ cơ sở thường là bên chịu trách nhiệm về dữ liệu quan trắc của mình. Trách nhiệm giữa doanh nghiệp và đơn vị vận hành được phân chia theo hợp đồng, nên hợp đồng cần quy định rõ.
Người dân sống gần nhà máy có xem được dữ liệu quan trắc tự động không?
Pháp luật bảo vệ môi trường có quy định về công khai thông tin môi trường, và một số địa phương công bố dữ liệu quan trắc. Mức độ công khai khác nhau; người dân có thể hỏi cơ quan quản lý môi trường của tỉnh hoặc uỷ ban nhân dân cấp xã.